This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Chữa tiêu hóa kém với cỏ cú

Cỏ cú còn gọi là cỏ gấu, củ gấu, củ gấu biển, củ gấu vườn, hải dương phụ, họ Cói, là loài cỏ sống lâu niên cao 20 - 30 cm. Theo Đông y, rễ chùm (củ) của cỏ cú để điều chế vị thuốc được gọi là hương phụ có vị cay, hơi đắng, hơi ngọt, tính bình...

Cỏ gấu là một loại cỏ sống lâu nǎm; lá nhỏ hẹ, ở giữa lưng có gân nổi lên, cứng và bóng, phần dưới lá ôm lấy thân cây; thân rễ phát triển thành củ; tuỳ theo đất rắn hay xốp củ phát triển to hay nhỏ. ở vùng bờ biển củ to, dài, chất lượng dược liệu tốt hơn, thường gọi là hải hương phụ (hương phụ vùng biển). Vào tháng 6, trên ngọn cây có 3 đến 8 cụm hoa hình tán màu xám nâu; nhụy có đầu núm chia thành 2 nhánh như lông tơ; quả 3 cạnh màu xám. Củ gấu có thể thu hoạch quanh nǎm. Thông thường, người ta đào củ về rửa sạch đất cát, phơi khô, đốt cho cháy hết lông, cất nơi khô ráo đề dùng dần làm thuốc.

Cây cỏ cú

Theo Đông y, rễ chùm (củ) của cỏ cú để điều chế vị thuốc được gọi là hương phụ có vị cay, hơi đắng, hơi ngọt; tính bình có công dụng chữa kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng, viêm tử cung mạn tính, đau dạ dày, ăn uống kém tiêu…

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6 - 12g. Dạng thuốc sắc, bột, viên, cao hay rượu thuốc. Dùng riêng hay phối hợp trong các phương thuốc phụ khoa, đau dạ dày.

Cách bào chế: Củ cỏ cú loại bỏ lông và tạp chất; rửa sạch để ráo sao đó nghiền vụn hoặc thái lát mỏng và đổ thêm giấm vào khuấy đều, ủ một đêm, đợi cho hút hết giấm, cho vào chảo sao lửa nhẹ đến màu hơi vàng, lấy ra, phơi khô. Cứ 10 kg Hương phụ dùng 2 lít giấm.

Một số bài thuốc có hương phụ:

Chữa kinh nguyệt không đều: Hương phụ 3g, ích mẫu 3g, ngải cứu 3g, bạch đồng nữ 3g, sắc với nước; chia 3 lần uống trong ngày.

Muốn cho kinh nguyệt đều, uống đón kinh 10 ngày trước ngày dự đoán có kinh hoặc gần kỳ kinh hay đau bụng hoặc hương phụ chế tán bột ngày uống 10g với nước nóng hoặc nước ngải cứu. Dùng liên tục trong một tháng hoặc có thể lâu hơn.

Chữa đau bụng, đầy bụng, rối loạn tiêu hóa: Hương phụ 40g, riềng khô 80g (riềng chọn củ nhỏ màu vàng nhạt). Hai thứ tán nhỏ cất vào lọ kín, mỗi lần uống 6 - 8g (trẻ em mỗi lần uống 2 - 4g) với nước chè nóng. Uống 3 - 5 ngày.

Chữa tiêu hóa kém: Hương phụ (sao) 12g, vỏ quýt (sao) 12g, vỏ vối (sao) 12g, vỏ rụt (sao) 16g, chỉ xác 12g. Sắc nước uống 5 ngày.

Chữa cảm cúm, gai rét, nhức đầu, đau mình: Hương phụ 12g, tía tô 10g, vỏ quýt 10g, cam thảo 4g, hành 3 cây, gừng tươi 3 lát, sắc uống (đơn thuốc của Tuệ Tĩnh).

Chú ý: Người âm hư huyết nhiệt không nên dùng.

Bác sĩ Hữu Đức

Hà thủ ô bổ can, thận

Hà thủ ô còn gọi là giao đằng, thủ ô, dạ hợp... Tên khoa học: Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson., họ rau răm (Polygonaceae). Hà thủ ô là rễ củ phơi hay sấy khô của cây hà thủ ô. Theo Đông y, hà thủ ô vị đắng ngọt chát, tính hơi ôn, vào các kinh can và thận. Tác dụng bổ can thận, dưỡng huyết bổ âm giải độc, nhuận tràng thông tiện.

Hà thủ ô dùng cho người can thận âm hư, huyết hư, đau đầu hoa mắt chóng mặt, đau lưng mỏi gối ù tai điếc tai, râu tóc bạc sớm, di tinh, huyết trắng, táo bón, hội chứng lỵ mạn tính, trĩ xuất huyết, sốt rét, lao hạch, bệnh mạch vành, tăng huyết áp, mỡ máu cao, xơ vữa động mạch. Liều dùng: 12 - 60g. Bổ huyết thì dùng hà thủ ô chế; nhuận tràng thông tiện thì dùng hà thủ ô sống.

Hà thủ ô đỏ.

Một số bài thuốc trị bệnh có hà thủ ô:

Trị chứng buồn bực, mất ngủ, mộng mị: dạ giao đằng 12g, đan sâm 12g, trân châu mẫu 60g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bổ huyết, an thần, dùng cho người huyết hư, lo lắng, mất ngủ, râu tóc bạc sớm: hà thủ ô chế 12g, bắc sa sâm 12g, quy bản 12g, long cốt 12g, bạch thược 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thuốc ích thận, cố tinh, dùng khi gan thận đều yếu, lưng và đầu gối đau nhức buốt, phụ nữ khí hư, di tinh - Thất bảo mỹ nhiệm đơn: hà thủ ô chế 20g, bạch linh 12g, ngưu tất 12g, đương quy 12g, thỏ ty tử 12g, phá cố chỉ 12g, câu kỷ tử 12g, kỷ tử 12g. Tất cả tán thành bột mịn, luyện với mật làm hoàn. Ngày 2 lần, mỗi lần uống 12g, chiêu bằng nước muối loãng.

Dùng khi thiếu máu, tăng huyết áp, đầu váng, mắt hoa, chân tay tê cứng: hà thủ ô chế 12g, sinh địa 12g, huyền sâm 12g, bạch thược 12g, hạn liên thảo 12g, sa uyển tật lê 12g, hy thiêm thảo 12g, tang ký sinh 12g, ngưu tất 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trường hợp sốt rét lâu ngày hại đến chân âm, sốt li bì triền miên dùng hai bài thuốc sau:

- Hà thủ ô sống 60g, sài hồ 12g, đậu đen 20g. Sắc với nước, đem phơi sương 1 đêm, sáng hôm sau hâm lại uống.

- Hà nhân ẩm: hà thủ ô chế 16g, đảng sâm 12g, đương quy 12g, trần bì 12g, gừng nướng12g. Sắc uống.

Thuốc nhuận tràng, thông tiện. Trị các chứng huyết hư, tân dịch khô nên đại tiện bí: hà thủ ô tươi 30 - 60g. Sắc uống.

Hà thủ ô uống hàng ngày có thể chữa chứng tinh trùng yếu, tinh loãng.

Phối hợp với tang ký sinh, nữ trinh tử để chữa tăng huyết áp do xơ vữa mạch máu.

Kiêng kỵ: Người thể đàm thấp, tỳ hư, đại tiện lỏng không được dùng.

Lưu ý: Ở Việt Nam, ngoài hà thủ ô đỏ, còn dùng rễ của cây hà thủ ô trắng (dây sữa bò, hà thủ ô Nam), thuộc họ thiên lý. Dùng thay hà thủ ô đỏ làm thuốc bổ máu, nhưng chưa có tài liệu nghiên cứu chi tiết. Theo kinh nghiệm dân gian, vị thuốc này có tác dụng chữa cảm sốt, cảm nắng, sốt rét, phụ nữ sau đẻ mà không có sữa.

Chú ý: Khi thu hái hà thủ ô trắng cần hết sức tránh nhầm với dây càng cua cũng thuộc họ thiên lý; cây mác chim thuộc họ trúc đào (Apocynaceae); các cây này đều là cây có độc.

BS. Tiểu Lan


Vị thuốc từ rễ cây qua lâu

Cây qua lâu (trichosanthes kirilowi maxim.) thuộc họ bí (cucurbitaceae), có tên khác là dưa trời, dưa núi, hoa bát, vương qua (tên gọi ở miền Bắc, dây bạc bát, bát bát châu (tên miền Nam), người Tày gọi là thau ca.

Đó là một dây leo có rễ củ thuôn dài thắt khúc. Lá mọc so le, hình tim, xẻ 5 thùy nông, có khía răng, mặt trên điểm những chấm trắng, tua cuốn chia nhánh. Hoa đơn tính màu trắng, đầu cánh có nhiều sợi dài; hoa đực mọc thành cụm dài, hoa cái đơn độc ở kẽ lá. Quả hình cầu hoặc hình trứng, màu lục có dọc trắng, khi chín màu đỏ, hạt nhiều, hình trứng dẹt, màu nâu. Rễ cây qua lâu còn gọi là qua lâu căn, tên thuốc trong y học cổ truyền là thiên hoa phấn.

Dược liệu có màu vàng hoặc nâu nhạt ở mặt ngoài, mặt cắt màu trắng có điểm mạch gân màu vàng, thể chất cứng rắn, khó bẻ gãy, vị nhạt sau hơi đắng, chua, không mùi, tính hàn, có tác dụng sinh tân dịch, chỉ khát, nhuận táo, giảm đau chữa sốt nóng, đái tháo đường, miệng khô, khát nước, đoản hơi, hoàng đản, lở ngứa, sưng tấy, trĩ rò. Ngày dùng 8 - 16g dưới dạng thuốc sắc hoặc thái mỏng, giã nát, ngâm nước, lọc lấy bột, dùng mỗi lần 4 - 8g. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

- Chữa sốt nóng, da vàng, miệng khô khát: rễ qua lâu 8g, rễ cây é lớn đầu 8g hoặc hạt đậu đen 8g, sắc với 200ml còn 50ml, uống làm 1 lần trong ngày.

- Chữa mụn nhọt lâu ngày: rễ qua lâu 8g; ý dĩ, bạch chỉ, mỗi vị 10g. Sắc hoặc tán bột uống.

- Chữa đái tháo đường: rễ qua lâu 8g; thục địa, hoài sơn mỗi vị 20g; đơn bì, kỷ tử, thạch hộc mỗi vị 12g; sơn thù, sa nhân mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Hoặc rễ qua lâu 12g, rau bợ nước 10g, phơi khô, tán nhỏ, hòa với sữa uống.

- Chữa tắc tia sữa: rễ qua lâu 8g; bạch thược 12g; sài hồ, đương quy, xuyên sơn giáp mỗi vị 8g; thanh bì, cát cánh, thông thảo mỗi vị 6g. Sắc uống trong ngày.

- Chữa sốt rét, thể rét nhiều, sốt ít hoặc không sốt: rễ qua lâu 8g; mẫu lệ 12g; sài hồ, quế chi, hoàng cầm mỗi vị 8g; can khương, cam thảo mỗi vị 6g. Sắc uống.

- Chữa thấp khớp mạn: rễ qua lâu, thổ phục linh, cốt toái bổ, thạch cao, kê huyết đằng, đơn sâm, sinh địa, rau má, uy linh tiên, hy thiêm, khương hoạt, độc hoạt mỗi vị 12g; bạch chỉ 8g; cam thảo 4g. Sắc uống trong ngày.

TTƯT.DSCKII. Đỗ Huy Bích


Phân biệt dừa nước và dừa cạn

Dừa nước hay còn gọi là rau dừa nước, hay du long thái (rau giống con rồng đang bơi) [Ludwwigia adscendans (L.) Hara], họ rau dừa nước (Onagraceae) là loại thảo, mọc bò, nổi trên mặt nước nhờ các phao xốp trắng, hình trứng. Thân hình trụ, mềm yếu, có rễ ở các mấu. Lá mọc so le, gốc thân đầu tù, hai mặt nhẵn. Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá, màu trắng. Quả nang. Cần phân biệt với cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb. họ cau) mọc ở các rạch nước lợ ở một số vùng biển miền Nam: Cà Mau, Gò Công, Tân An...

Ở Việt Nam, rau dừa nước phân bố ở hầu hết các tỉnh đồng bằng, trung du và vùng núi thấp. Thường mọc ở đầm lầy, ao hồ. Có thể thu hái quanh năm, nhiều nhất vào mùa thu, dùng tươi hay phơi khô.

Trong rau dừa nước có chứa các thành phần flavonoid, tanin, chất nhầy, nhiều muối K, Na.

Theo YHCT, rau dừa nước có vị ngọt, nhạt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, mát máu, giải độc.

Rau dừa nước được dùng trong để chữa cảm sốt, ho khan, tiểu đục, phù thũng, lỵ ra máu. Đắp ngoài chữa sưng, lở, vết thương, nấm tóc. Liều dùng chung từ 10 - 20g; có thể đến 100g khô. Dùng ngoài không kể liều lượng.Dừa cạn.

Dừa cạn.

Một số bệnh, chứng thường dùng rau dừa nước.

Viêm cầu thận cấp, đái ra dưỡng chấp và các bệnh đái đục khác, rau dừa nước 100-200g sắc uống, ngày 1 thang trước bữa ăn; hoặc rau dừa nước 30-40g, rễ non cây đa 20-30g (loại rễ mọc từ cành tủa xuống), nam tỳ giải 15-20g (củ kim cang gai), sắc uống, ngày 1 thang trước bữa ăn.

Vết thương phần mềm, ứ máu, sưng tấy hoặc mụn nhọt, đinh độc: rau dừa nước 30g, vỏ thân cây gáo (lớp vỏ trắng) 30g, sắc uống, ngày 1 thang trước bữa ăn.

Cảm sốt: rau dừa nước 30g, thái lài tía 10g, sắc uống, ngày 1 thang trước bữa ăn.

Dừa cạn còn gọi là Trường xuân hoa (Catharanthus roseus (L.) G. Don, họ trúc đào (Apocynaceae).

Dừa cạn là cây thuộc thảo, cao 0,4 - 0,8m. Lá mọc đối, hình thuôn dài 3-8cm, rộng 1-2,5cm. Hoa mọc đơn độc ở nách lá, 5 cánh hoa, màu hồng hay trắng. Quả gồm hai đại, mỗi đại chứa khoảng 12-20 hạt, màu nâu nhạt. Dừa cạn là cây có nguồn gốc từ châu Mỹ, hiện nay, ở nước ta, dừa cạn phổ biến ở hầu hết các vùng miền, chủ yếu mọc hoang trên các bãi cát ven biển: Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng... Còn được trồng làm cảnh và làm thuốc ở Hà Nội và các thành phố khác.Dừa nước.

Dừa nước.

Bộ phận dùng của dừa cạn là lá và rễ. Thường thu hái lá trước khi cây ra hoa vì lúc này hàm lượng hoạt chất alcaloid là cao nhất, đem phơi khô hoặc sấy nhẹ đến khô. Với rễ dừa cạn, sau khi rửa sạch đất cát, đem phơi khô hoặc sấy nhẹ ở 50 độ đến khô.

Thành phần hóa học của dừa cạn chủ yếu là các alcaloid: vinblastin, vincristin, ajmalicin...

Lá dừa cạn có vị đắng, tính mát. Quy các kinh tâm, can với công năng hoạt huyết, tiêu thũng giải độc, an thần, hạ áp. Trị tăng huyết áp, tiểu đường, kinh nguyệt không đều, lỵ, bí tiểu tiện. Liều dùng chung của lá: từ 8-16g dưới dạng sắc hoặc hãm.

Rễ dừa cạn có vị đắng, tính mát, có độc. Quy kinh can, tâm, thận với công năng hạ huyết áp, giải độc, an thần. Dùng chủ yếu đối với bệnh tăng huyết áp. Còn dùng rễ để chiết xuất một số alcaloid trị một số bệnh ung thư. Liều dùng chung của rễ từ 8-12g dưới dạng sắc hoặc hãm.

Như vậy, khác với rau dừa nước thường dùng để trị một số bệnh chứng về bệnh đường tiết niệu như đái đục, đái khó, đái ra dưỡng trấp thì dừa cạn chủ yếu dùng trị bệnh tăng huyết áp, tinh thần căng thẳng.

Tuyệt nhiên không dùng cây dừa cạn để chữa bệnh ung thư vì ung thư là bệnh loạn sản tế bào, đối với thuốc dược liệu và thuốc YHCT nói chung chỉ có thể dùng hỗ trợ điều trị các bệnh ung thư sau khi đã qua xạ trị, hoặc hóa trị liệu... nhằm tăng cường hệ miễn dịch, cải thiện các tình trạng suy yếu cơ thể, hoặc cải thiện các chức năng tiêu hóa, tuần hoàn... giúp cơ thể nâng cao sức đề kháng, chống lại bệnh tật. Như ta đã biết, một vài alcaloid của dừa cạn như vincristin, vinblastin đã được chiết xuất và bào chế dưới dạng muối sulfat để tiêm, trị liệu đối với bệnh ung thư máu.

Vì hàm lượng của các thành phần có hoạt tính ức chế tế bào ung thư nào đó trong dược liệu nói chung và trong dừa cạn nói riêng là rất thấp, do vậy, không thể dùng trực tiếp dược liệu nói chung và dừa cạn nói riêng để chữa bệnh ung thư được.

Với những thông tin trên, hy vọng sẽ giúp độc giả hiểu thêm về công dụng của hai loài cây thuốc mang tên dừa. Đặc biệt là những thông tin cần thiết về cây dừa cạn.

GS.TS. Phạm Xuân Sinh

Sơn chi tử giải độc, lợi tiểu

Sơn chi tử là quả của dành dành núi (Gardenia stenophylla Merr) thuộc họ cà phê (Rubiaceac), tên khác là thủy hoàng chi, thường mọc ở ven bờ suối hoặc chân đồi giáp với ruộng nước. Sơn chi tử thu hái khi chín, ngắt bỏ cuống, phơi hoặc sấy nhẹ đến khô. Khi dùng ngâm quả vào nước sôi hoặc đem đồ khoảng nửa giờ rồi bóc vỏ lấy nhân. Nhân có thể để sống có tác dụng thanh nhiệt, sao qua dùng chín để tả hỏa hoặc sao đen để cầm máu.

Sơn chi tử.

Dược liệu có vị đắng, tính hàn, có tác dụng tả hỏa, giải độc, lợi tiểu, chỉ huyết, được dùng trong những trường hợp sau:

Chữa tinh hoàn sưng đau: sơn chi tử (sao đen) 30g, tiểu hồi (sao với muối) 30g, hạt quýt (sao với giấm) 30g, hạt vải 30g, ích trí nhân 20g, hạt cau rừng 15g, thanh bì (sao với dầu vừng) 18g. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn, mỗi lần uống với 6g với rượu vào lúc đói. Nếu không uống được rượu, lấy 10 sợi cỏ tím sắc với nước, thêm ít muối rang làm thang mà uống.

Chữa nôn mửa: sơn chi tử (sao) 10g, trần bì 10g, tinh tre 10g, gừng sống 5g sắc với 400ml nước còn 100ml, uống nóng làm 2 lần trong ngày.

Chữa đái ít, đái buốt, đái dắt: sơn chi tử, mộc thông, hạt mã đề, cù mạch, biển súc, hoạt thạch mỗi vị 12g; đại hoàng 8g; cam thảo nướng 6g. Sắc nước uống ngày 1 thang.

Chữa vết sẹo trên mặt: sơn chi tử và hạt bạch tật lê mỗi vị lượng bằng nhau tán nhỏ hòa với giấm. Lấy bông sạch thấm thuốc, bôi vào ban đêm, sáng hôm sau rửa mặt, làm liên tục vài ngày.

Chữa ho ra máu, thổ huyết: sơn chi tử (sao), hoa hòe (sao), sắn dây mỗi vị 20g. Sắc nước hòa thêm ít muối rồi uống.

DS. Huyền Hoa


Mướp

Mướp là một loại rau quả dùng phổ biến trong nhân dân, được chế biến thành nhiều món ăn ngon, thanh mát trong mùa hè. Bên cạnh đó, mướp còn là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh.

Cây mướp thuộc loại dây leo, thân có nhiều tua cuốn bò lan trên giàn, hoa màu vàng, trái thuôn dài có màu xanh nhạt, chứa nhiều dưỡng chất, vị ngọt, tính bình, có mùi thơm nhẹ. Mướp có hai loại: mướp trâu là loại quả to, màu xanh đậm; mướp hương quả nhỏ, màu xanh nhạt và có mùi thơm ngát. Cả hai loại đều dùng làm thực phẩm và làm thuốc.

Phân tích thành phần dinh dưỡng, trong 100g mướp có chứa 95g nước, 0,9g protit, 0,1g lipit, 3g ghucit, 0,5gr xeluloza, 28mg sắt, 160mcg betacaroen, vitamin B, C... Mướp giàu sinh tố, khoáng vi lượng, chất nhớt và chất xơ rất tốt cho cơ thể.

Mướp được dùng chữa bệnh như sau:

Món ăn lợi sữa: Mướp tươi 1 quả, muối ăn 10g. Mướp gọt vỏ, rửa sạch, cắt miếng cho vào nồi, thêm 1 lít nước, cho muối vào đun sôi, cho sản phụ uống đến khi sữa ra nhiều. Hoặc dùng móng giò lợn nấu mướp để ăn với cơm hàng ngày. Công dụng: kích thích tiêu hóa, tăng cường tuần hoàn máu và lưu thông tuyến sữa.

Giảm đau do viêm họng: Lá mướp hương 2 - 3 lá, rửa sạch, giã nhỏ với ít muối, thêm nước, gạn uống làm một lần, làm vài lần trong 2 - 3 ngày.

Giảm ho, tan đờm do viêm khí phế quản: Quả mướp tươi để cả vỏ rửa sạch, giã nát, vắt lấy 40ml nước, hòa trộn với 10ml mật ong, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần uống 20 - 30ml. Dùng 3 - 5 ngày.

Mướp vị ngọt tính bình, là vị thuốc chữa nhiều bệnh.

Món canh thanh nhiệt, giải độc: Mướp tươi 2 quả, thịt ba chỉ 200g, hành, gừng và gia vị vừa đủ. Mướp gọt vỏ, rửa sạch, thái miếng vuông. Thịt ba chỉ rửa sạch thái miếng vừa ăn. Đun nóng chảo, cho dầu ăn và hành, gừng xào thơm, rồi cho thịt ba chỉ, gia vị vào xào đảo đều trong 5 phút. Tiếp theo cho mướp vào xào thêm 2 phút. Đổ 3 - 4 bát nước, để nhỏ lửa đun trong 5 phút là được, dùng làm canh ăn trong bữa cơm. Có thể dùng thường xuyên.

Chữa sạm da: Dùng 1 quả dưa chuột tươi, 1 quả mướp non (nhỏ bằng quả dưa chuột). Cả hai rửa sạch, để cả vỏ xay nát, lọc lấy nước cốt thoa lên mặt, sau 30 phút rửa mặt lại với nước lạnh. Làm thường xuyên có tác dụng chữa sạm da, giúp da mịn màng, trắng sáng.

Chú ý: Những người tỳ vị hư yếu, hay đau bụng, đại tiện lỏng nát không nên dùng.

Bác sĩ Nguyễn Thị Nga


Những loại thảo dược có tác dụng trị bệnh

Dưới đây là những loại thảo dược đó:

Dầu khuynh diệp

Dầu khuynh diệp chứa hợp chất cineole giúp giảm ho, chống nghẹt mũi và giảm kích thích xoang mũi. Đây là một trong những thảo dược hiệu quả chống nhiễm trùng.

Rễ cam thảo

Rễ cam thảo có tác dụng làm loãng dịch nhày ở cổ họng, hỗ trợ loại bỏ dịch nhày và giảm khó chịu ở cổ họng.

Cỏ xạ hương

Cỏ xạ hương có đặc tính khử trùng, kháng nấm và được xem nhưng một kháng sinh tự nhiên. Uống trà cỏ xạ hương giúp chống lại các vi khuẩn và virus, phòng ngừa nhiễm trùng.

thảo dược

Oregano

Oregano chứa các vitamin và dưỡng chất giúp hệ miễn dịch khỏe mạnh và còn có tác dụng như một chất giúp thông mũi và kháng histamin tự nhiên.

Bạc hà

Bạc hà hỗ trợ làm dịu đường hô hấp và giúp bạn dễ thở hơn. Bạc hà cũng được xem như một chất giúp thông mũi tự nhiên.

Cây xô thơm

Cây xô thơm có thể được sử dụng để hỗ trợ điều trị các vấn đề về phổi và bệnh đường hô hấp.

Lá chuối

Lá chuối có thuộc tính kháng khuẩn và chống viêm giúp giảm ho bằng cách làm loãng dịch nhày.

BS P.Liên

(Theo Boldsky)